Tăng cường hợp tác khu vực về ứng dụng AI trong xây dựng, tổ chức thi hành pháp luật và hoạt động tư pháp
19/08/2026
Thứ trưởng Nguyễn Thanh Tịnh điều hành phiên toàn thể 2. (Ảnh trong bài: PV)
Chiều 18/8, tiếp tục chương trình Diễn đàn Pháp luật năm 2026, phiên toàn thể 2 đã diễn ra sôi nổi với sự tham gia của Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh cùng đông đảo các đại biểu, trong đó có việc đẩy mạnh ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong xây dựng, tổ chức thi hành pháp luật và hoạt động tư pháp.
Tại phiên toàn thể 2, trình bày tham luận “Các mô hình và thực tiễn tốt về ứng dụng AI trong xây dựng và thi hành pháp luật”, TS Lê Tuấn Phong, Phó Vụ trưởng Vụ Công tác xây dựng VBQPPL, Bộ Tư pháp đã phân tích thực tiễn trong nước và kinh nghiệm quốc tế để thúc đẩy ứng dụng AI trong xây dựng và thi hành pháp luật ở Việt Nam.
Qua đó, ông đề xuất một số định hướng như hoàn thiện khung chính sách và thể chế về ứng dụng AI trong lĩnh vực pháp luật. Cần xây dựng các nguyên tắc và hướng dẫn thống nhất về việc sử dụng AI trong hoạt động xây dựng và thi hành pháp luật, trong đó xác định rõ phạm vi ứng dụng, trách nhiệm của cơ quan sử dụng, cơ chế kiểm soát chất lượng, bảo đảm tính minh bạch, khả năng giải trình và nguyên tắc “con người quyết định cuối cùng”. AI cần được xác định là công cụ hỗ trợ, không thay thế trách nhiệm pháp lý của cơ quan, cá nhân có thẩm quyền.

Phó Vụ trưởng Lê Tuấn Phong.
Đồng thời, xây dựng hệ sinh thái dữ liệu pháp luật quốc gia kết hợp bộ dữ liệu chuyên ngành đạt chuẩn (AI - ready data). Nghiên cứu phát triển Trợ lý AI chuyên ngành pháp luật Việt Nam. Ưu tiên ứng dụng AI theo toàn bộ vòng đời của văn bản quy phạm pháp luật. Tăng cường đào tạo nguồn nhân lực pháp luật trong kỷ nguyên AI.
Ông Phong cũng cho rằng, cần thúc đẩy hợp tác quốc tế và hợp tác công - tư. Việt Nam cần tăng cường trao đổi kinh nghiệm với các tổ chức quốc tế như OECD, Liên hợp quốc, Ngân hàng Thế giới, các nước ASEAN và những quốc gia có kinh nghiệm trong ứng dụng AI vào quản trị công; đồng thời khuyến khích sự tham gia của các doanh nghiệp công nghệ, viện nghiên cứu và trường đại học trong nghiên cứu, phát triển các giải pháp AI phục vụ hoạt động xây dựng và thi hành pháp luật.
Theo ông Phong, sự phát triển mạnh mẽ của AI đang mở ra cơ hội quan trọng để đổi mới hoạt động xây dựng và thi hành pháp luật theo hướng khoa học, minh bạch và hiệu quả hơn. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy AI không thay thế vai trò của các chủ thể có thẩm quyền mà trở thành công cụ hỗ trợ quan trọng trong phân tích dữ liệu, xây dựng chính sách, hoàn thiện hệ thống pháp luật và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp.
Đối với Việt Nam, việc ứng dụng AI trong lĩnh vực pháp luật cần được triển khai theo lộ trình phù hợp, gắn với quá trình hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phát triển Chính phủ số và thực hiện các chủ trương lớn của Đảng về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Cần chuyển từ tư duy ứng dụng AI trong một số công đoạn sang thiết kế hệ sinh thái AI hỗ trợ toàn bộ vòng đời xây dựng và thi hành pháp luật.

Viện trưởng Nguyễn Văn Cương.
Qua nghiên cứu, TS Nguyễn Văn Cương, Viện trưởng Viện Chiến lược và Khoa học pháp lý (Bộ Tư pháp) cho biết, các quốc gia ASEAN lựa chọn những điểm khởi đầu khác nhau trong việc ứng dụng AI vào lĩnh vực pháp luật và hoạt động tư pháp, nhưng đều không xem AI là một giải pháp tồn tại độc lập với dữ liệu, quy trình và trách nhiệm của cơ quan sử dụng. Hướng tiếp cận của mỗi quốc gia trên phản ánh điều kiện thể chế và nhu cầu của từng quốc gia, đồng thời gợi mở cách thức hợp tác phù hợp cho ASEAN sắp tới. Thay vì tìm kiếm một mô hình ứng dụng thống nhất, hợp tác khu vực nên tạo điều kiện để các quốc gia chia sẻ phương pháp, nguồn dữ liệu, kết quả thử nghiệm và bài học quản trị, từ đó lựa chọn những giải pháp có thể thích ứng với hệ thống pháp luật và mức độ sẵn sàng của mình.
Đề xuất định hướng, sáng kiến tăng cường hợp tác trong khu vực, theo ông Cương, cần nghiên cứu xây dựng Khung hợp tác ASEAN về chuyển đổi số và ứng dụng AI trong xây dựng, tổ chức thi hành pháp luật và hoạt động tư pháp; xây dựng Mạng lưới thông tin và tri thức pháp luật ASEAN; tổ chức diễn đàn thường kỳ về LegalTech và AI ASEAN; hình thành Mạng lưới nghiên cứu và đào tạo ASEAN về AI, pháp luật và tư pháp.
Về lộ trình thực hiện, theo ông Cương, trong giai đoạn 2026-2030, trọng tâm của hợp tác trước hết cần tạo lập cơ sở thể chế và nhận diện đúng nhu cầu của các quốc gia thành viên. Sự khác biệt giữa các nước ASEAN hiện không chỉ nằm ở mức độ phát triển hạ tầng hoặc nguồn lực tài chính, mà còn thể hiện ở cách thức tổ chức cơ sở dữ liệu pháp luật, tình trạng số hóa thủ tục tư pháp và quan điểm về việc sử dụng AI. Trên cơ sở kết quả thí điểm, hợp tác có thể chuyển sang kiểm chứng khả năng vận hành của các sáng kiến ở quy mô lớn hơn. Cùng với đó, ASEAN có thể từng bước xây dựng bộ thuật ngữ pháp lý đa ngôn ngữ, AI pháp lý và chương trình đào tạo gắn trực tiếp với các dự án.
Sau năm 2030, trên cơ sở tổng hợp lại từ các kết quả đã được kiểm chứng, ASEAN có thể xem xét kết nối sâu hơn các nguồn dữ liệu công khai và phát triển cơ chế xác thực tài liệu hoặc trao đổi thông tin pháp luật, tư pháp. Như vậy, lộ trình được phát triển từ xây dựng nền tảng sang kiểm chứng và mở rộng, rồi đến chuẩn hóa và thể chế hóa, bảo đảm mức độ hợp tác được nâng lên trên cơ sở kết quả thực tế và sự đồng thuận của các thành viên.
Ông Cương tâm niệm, chuyển đổi số và AI đang mở ra cơ hội nâng cao chất lượng xây dựng, tổ chức thi hành pháp luật và hoạt động tư pháp, nhưng đồng thời đặt ra yêu cầu mới về độ tin cậy, bảo vệ dữ liệu, trách nhiệm giải trình và giám sát của con người. Vì vậy, hợp tác ASEAN cần được triển khai từng bước, linh hoạt, tôn trọng sự khác biệt về thể chế, ngôn ngữ và năng lực hạ tầng công nghệ của các quốc gia thành viên.